Quảng Ngãi là một tỉnh thuộc lưu vực sông Trà Khúc có diện tích tự nhiên là 5.856 km2. Trong phạm vi tỉnh hiện nay có 14 công trình quan trắc tài nguyên nước dưới đất.
Đối với tài nguyên nước dưới đất tỉnh Quảng Ngãi gồm 2 tầng chứa nước chính: tầng chứa nước Holocene (qh) và tầng chứa nước Pleistocene (qp). Theo báo cáo thuộc dự án “Biên hội - thành lập bản đồ tài nguyên nước dưới đất tỷ lệ 1:200.000 cho các tỉnh trên toàn quốc”, tổng tài nguyên nước dự báo cho các tầng chứa nước chính như sau: Tầng chứa nước Holocen (qh) 903.355,93m3/ngày, tầng chứa nước Pleistocen (qp) 533.805,86m3/ngày. Trong bản tin phạm vi dự báo tài nguyên nước dưới đất của tỉnh sẽ thực hiện ở 2 tầng chứa nước chính.
Tầng chứa nước Holocene (qh)
Trong phạm vi tỉnh, mực nước trung bình tháng 02 có xu thế hạ so với tháng 01. Giá trị hạ thấp nhất là 1,2m tại xã Nghĩa Kỳ, huyện Tư Nghĩa (QT6a-QN).
Mực nước trung bình tháng nông nhất là -0,83m tại xã Bình Thới, huyện Bình Sơn (QT2b-QN) và sâu nhất là -5,23m tại xã Phổ An, TX. Đức Phổ (QT9a-QN). Trong tháng 3 và tháng 4 mực nước có xu thế hạ, mực nước hạ từ 0,07m đến 0,83m.
Tầng chứa nước Pleistocene (qp)
Trong phạm vi tỉnh, mực nước trung bình tháng 02 có xu thế hạ so với tháng 01. Giá trị hạ thấp nhất là 0,73m tại xã Phổ An, TX. Đức Phổ (QT9b-QN).
Mực nước trung bình tháng nông nhất là -2,63m tại xã Đức Minh, huyện Mộ Đức (QT7b-QN) và sâu nhất là -4,99m tại xã Phổ An, TX. Đức Phổ (QT9b-QN). Trong tháng 3 và tháng 4 mực nước có xu thế hạ, mực nước hạ từ 0,16m đến 0,83m.